Cuộc sống của những người Việt Nam ở nước CHDC Đức là như thế nào? & Of Other Things đã phỏng vấn những cá nhân đã dành một phần cuộc đời của mình tại nơi đây.
Viết và phỏng vấn bởi Fabiola Büchele ● ảnh chụp bởi Nikolaj Svennevig ● Dịch bởi Tabby Chino
25 năm trước đây, vào giây phút bức tường Berlin sụp đổ ngày 9 tháng 11 năm 1989, đang có trên dưới 60,000 người Việt Nam sinh sống ở Đông Đức.
Trong suốt thời kỳ nước CHDC Đức tồn tại – từ năm 1949 đến năm 1990, một thời gian ngắn sau sự sụp đổ của bức tường Berlin – đã có khoảng 100,000 người dân đến từ Bắc Việt Nam sống tại đó; họ là những sinh viên, nghiên cứu sinh và công nhân được nhà nước cử đi tu nghiệp. Cùng nằm trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về thể chế chính trị với Đông Đức và đã nhận được muôn vàn sự ủng hộ về nhiều mặt từ đất nước anh em của mình.
Làn sóng người Việt Nam đến Đức đầu tiên là những sinh viên. Những người Việt Nam trẻ được ưu tiên hưởng nền giáo dục phương Tây này phải có đủ hai tiêu chuẩn, một là thành tích học tập xuất sắc ở trường và hai là nền tảng gia đình “cơ bản” – họ thường là con của những chiến sỹ đã hi sinh trong cuộc chiến tranh hoặc những thành viên của Đảng Cộng sản, lớn lên trong gia đình thuộc tầng lớp công-nông. Họ được đào tạo rồi sau đó trở về xây dựng lại quê hương sau khi bị tàn phá từ cuộc chiến tranh với Mỹ. Vào những năm 80 một thế hệ người Việt khác, khoảng 70,000 người, được cử sang để làm việc tại các nhà máy ở Đức.
Khi bức tường Berlin sụp đổ, 60,000 công nhân Việt Nam ở Đông Đức đã phải đối mặt với một tương lai bất định. Hợp đồng làm việc của họ, ký định kỳ 5 năm một lần, và giấy phép cư trú của họ giờ đã thuộc về một quốc gia không còn tồn tại. Nhiều nhà máy nơi họ đang làm việc đã bị đóng cửa.
Hầu hết những người công nhân này, giống như những sinh viên và thực tập sinh thế hệ trước đó, đã trở về Việt Nam. Họ được nhận một khoản trợ cấp cuối cùng: một chiếc hộp lớn có thể tích cả mét khối để họ đựng tất cả những hàng hóa họ có thể mang theo, 3000 Mark Đức (tương đương khoảng 40.000.000 VNĐ) tiền mặt và một tấm vé máy bay để trở về quê hương. Đối với nhiều người, đây chính là khoản đầu tư dành cho phần đời còn lại của họ ở Việt Nam.
Cuộc sống ở CHDC Đức của họ là một chuỗi ngày phải tuân thủ nhiều kỷ luật và chịu sự giám sát chặt chẽ. Những người Việt Nam sống tại đây chỉ có một mục đích duy nhất là hoàn thành nghĩa vụ Tổ quốc đã giao cho họ, không phải để giao lưu kết bạn và định cư. Những người công nhân bị đặc biệt phản đối việc kết thân với cộng đồng người Đông Đức. Nếu vi phạm những điều lệ ấy, họ sẽ bị kỷ luật, thậm chí cắt hợp đồng. Việc mang thai là một điều gần như cấm kỵ, và rất nhiều công nhân nữ đã bị buộc phải phá thai.
Tuy vậy, khi trò chuyện cùng những người đã trở về từ Đông Đức ngày ấy, rõ ràng phần đông trong số họ đã xoay sở để vừa có thể hoàn thành trách nhiệm được giao, và vẫn có những cách để uốn mình giữa những điều lệ nghiêm khắc ấy. Nhiều người đã hào hứng kể về những người bạn Đức của họ, gọi nước Đức là quê hương thứ hai của mình, và hết lòng trân trọng quãng đời họ đã sống tại nơi đây. Những khó khăn họ phải đối mặt khi sống ở Đức chỉ là rất nhỏ so với một xã hội Việt Nam đổ nát sau chiến tranh mà họ đã để lại sau lưng, nơi mà cuộc sống thiếu thốn đủ thứ từ lương thực cho đến nguồn điện.
Những người Việt Nam sống ở Đông Đức chính là một ví dụ điển hình cho thấy thời điểm tồn tại trong lịch sử của một con người và những sự lựa chọn mà họ có, cũng như đã trải qua, sẽ quyết định thái độ của con người ấy trước những thử thách họ sẵn lòng đối mặt và định nghĩa của họ về một đời sống chất lượng cao.
●●
Bài viết này là một phần của chuỗi bài viết kỷ niệm 25 năm ngày bức tường Berlin sụp đổ, và cũng nhằm tìm hiểu cuộc sống của 100,000 người Việt Nam đã từng lưu trú tại CHDC Đức trong suốt thời gian 42 năm tồn tại của quốc gia này.
















