andofotherthings
  • Trang chủ
    • Đăng ký
  • Art & Image
  • Film, Sound & Stage
  • Fashion & Things
  • People & Places
  • Ideas & Issues
  • Giới thiệu
    • Cộng tác
    • Rose Arnold
    • Fabiola Buchele
Nghệ thuật & Hình ảnh, Conversations, Vài điều về tôi 0

Vài điều về tôi: Natasha Kraevskia

Bởi andofotherthings · Vào 8 Jul, 2015

Những mảnh ghép của cuộc đời và chất kết dính kỳ diệu đã giữ chúng lại với nhau

Natasha2

 

Chuyên mục “Vài điều về tôi” của & Of Other Things là sê-ri bài viết về những con người đặc biệt theo một cách đặc biệt. Thay bằng việc phỏng vấn thông thường, chúng tôi tới thăm nhà họ, quan sát cuộc sống của họ và viết về những đồ vật mà họ yêu quý nhất. Những gì chúng tôi viết ở đây có thể đã được rút ngắn và biên tập để tạo nên một câu chuyện cô đọng và mạch lạc, nhưng tất cả đều xuất phát từ những chia sẻ vôi cùng chân thực của nhân vật trong bài viết.

Cho bài viết kỳ này, & Of Other Things đã có một cuộc trò chuyện với Natasha Kraevski – một nhân vật không thể không nhắc tới khi nói về nền nghệ thuật đương đại Việt Nam. Nữ học giả người Nga chuyên ngành ngôn ngữ này đã đặt chân đến Hà Nội vào năm 1983 để làm việc tại Viện Pushkin. Không lâu sau đó, cô đã gặp Vũ Dân Tân – một nghệ sĩ phi chính thống, người sau này đã trở thành chồng của cô, bất chấp các luật lệ hà khắc cấm kết hôn giữa người Việt và người Nga tại thời kỳ đó.

Sau một thời gian sinh sống tại Nga, đôi vợ chồng trở về Hà Nội và thành lập Salon Natasha – phòng trưng bày nghệ thuật đương đại độc lập đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1990.

“Bất cứ điều gì về nơi ở của một người cũng có thể giúp bạn hiểu thêm về người đó”, Natasha vừa gật gù hưởng ứng, vừa mời tôi một ly vodka thảo mộc tự pha chế. Cách trò chuyện thân tình và gần gũi của cô khiến tôi hoài nghi, liệu cô có thực sự là người phụ nữ gai góc như lời cô miêu tả.

Phỏng vấn, lời: Fabiola Buchele ● Ảnh: Yên Nguyễn ● Dịch: Hoàng Hạnh Lê

 

CHIẾC MẶT NẠ

the masks

“Tôi có một người bạn rất yêu nghệ thuật. Vào thời điểm đó, Hà Nội chỉ có duy nhất một phòng tranh do Nhà nước quản lý. Tôi đã từng đến đó, mua vài bức tranh lụa rồi cho cô ấy xem, nhưng cô ấy chỉ thốt lên: “Ôi cậu đã mua cái thứ rác rưởi gì thế này!”. Cô bạn tôi có quen một nghệ sĩ rất tài năng khi cô còn ở Hà Nội, và cô nhờ tôi mang hộ cho anh ta chút quà lưu niệm. Có nói rằng sẽ có một đồng nghiệp người Việt Nam đi cùng và dẫn tôi tới địa chỉ này, số 30 Hàng Bông.

Quà lưu niệm chỉ là nến, sữa, đường và muối; nhưng ở Việt Nam thời đó thì chúng rất đáng quý. Tôi đã đến đó, và gặp một anh chàng vận đồ đen từ đầu tới chân. Tóc anh dài, xoăn, toát lên một vẻ lạ lùng rất nghệ sĩ. Tôi trông thấy trên tường có rất nhiều mặt nạ giống thế này, không phải đúng cái này nhưng giống hệt. Có một cái trông đặc biệt hơn chút, và tôi thắc mắc: “Ôi cái gì đây? Một con mèo à?”. Anh ấy trả lời: “Cô muốn nó là gì nó sẽ là thế, có thể là mèo mà cũng có thể là chuột”. Tôi thực sự bị ấn tượng bởi câu trả lời đó, (cười lớn) ngốc thật đấy nhưng mà…

Chúng tôi không thể nói chuyện ngay tại căn phòng này, vì sẽ không hay lắm nếu như người qua đường nhìn thấy bên trong nhà có một người ngoại quốc. Bởi thế, chúng tôi lui vào căn phòng nhỏ đằng sau cánh cửa này, là phòng làm việc và phòng riêng của anh ấy. Trên sàn có rất nhiều thứ kiểu như hạt hướng dương và anh ấy nói rằng: “Cô thấy đấy, có rất nhiều người đến đây”. Hôm đó là ngày 25 tháng 12 và trong khi tôi đang thắc mắc tại sao người ta lại đón mừng Giáng sinh ở đây thì anh ấy bảo: “Cô có thể đến đây, rất nhiều bạn bè của tôi cũng đến, và tôi còn độc thân.” Đấy, anh ấy đã nói thế đấy.

Đương nhiên là tôi không đến ngay ngày hôm sau đó, tôi là một cô gái đứng đắn mà. Sau 2 ngày tôi mới mò đến đó (cười lớn) và câu chuyện tình yêu bắt đầu từ đây. Đây là người chồng quá cố của tôi, chuyện xảy ra từ năm ’83, đến nay cũng phải 32 năm rồi, và giờ tôi vẫn còn đang ngồi đây. Đó là câu chuyện đằng sau những chiếc mặt nạ, và cách tôi đã bị chúng hớp hồn.

Lúc đó tôi đang vừa làm việc tại một trường đại học, vừa dạy học cho bà vợ ông đại sứ; tôi đã tìm cách tiếp cận bà ấy, kể cho bà ấy nghe chuyện của chúng tôi và hỏi làm thế nào [chúng tôi có thể có được giấy phép đăng ký kết hôn]. Bà ấy nói: “Được thôi, cô chỉ cần viết một bức thư, nhưng không phải một bức thư trang trọng, hãy viết một bức thư thật lãng mạn gửi tới ngài đại sứ và tôi sẽ tìm cách đưa cho chồng tôi vào thời điểm phù hợp”. Tôi nghĩ là bà ấy đã thực sự tìm được thời điểm phù hợp để đưa cho ông ấy, có lẽ là sau khi ông ấy đã làm vài ly rượu. Và rồi bà ấy bắt đầu lên tiếng bênh vực cho tôi. Khi tôi đi đăng ký với lãnh sự quán, ngài lãnh sự cực kỳ cực kỳ hạch sách, nhưng cứ khi nào ông ta bắt bẻ tôi, tôi lại gọi điện cho vợ ông đại sứ. Cuối cùng chúng tôi cũng được bên phía Nga cho phép. Phải mất đến nửa năm. Bên phía Việt Nam cũng chẳng dễ dàng gì. Tôi thậm chí còn từng đến gặp ngài Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao và nói rằng nếu họ không cho phép tôi kết hôn, tôi sẽ tự thiêu ở Quảng trường Ba Đình. Đương nhiên là tôi sẽ không làm thế rồi, tôi yêu bản thân mình mà (cười lớn).”

●●

CĂN NHÀ

 

salon_natasha

 

“
Lúc đó ở Nga, cuộc vận động tái cấu trúc giữa Liên bang Cộng hòa Xô Viết (Perestroika) đang diễn ra và làm thay đổi rất nhiều thứ. Những nghệ sĩ được giải phóng, họ tràn xuống đường biểu diễn, lập sân khấu ngay cả trong công viên, tổ chức các sự kiện, đủ trò. Nhưng ở Việt Nam thì kể cả sau Đổi Mới, khối nghệ thuật và văn hoá không thể thay đổi ngay lập tức mà phải cho đến tận 10 năm sau. Bởi vậy, chồng tôi quyết định quay trở lại Hà Nội, tôi nhận việc tại Viện Pushkin và chúng tôi mở ra một không gian nghệ thuật độc lập làm nơi trưng bày các tác phẩm đương đại, các loại hình nghệ thuật thể nghiệm, tổ chức sự kiện, những thứ kiểu như vậy.

Nhưng đây không giống với bất cứ một phòng trưng bày nghệ thuật bình thường nào, vì nó còn là nhà riêng của chúng tôi nữa. Tôi cố giấu đi những món đồ lặt vặt, như đôi giày của tôi, nhưng chồng tôi lại bưng nó ra đặt giữa phòng. Chúng tôi định hình phòng tranh như một không gian nghệ thuật, thế nhưng nó cũng là studio nơi chồng tôi làm việc, nhà chúng tôi ở, và là nơi để mọi người gặp gỡ giao lưu. Chuyện cứ xảy ra như thế với tôi, và đôi khi tôi kháng cự lại nó, cố gắng giấu đi một vài thứ vật dụng trong nhà. Nhưng với chồng tôi, anh ấy chủ định để mọi thứ như vậy. Tôi đã cùng bàn luận điều này với một nhà nghiên cứu đang làm luận án tiến sĩ về anh ấy. Cô ấy phân tích các tác phẩm của chồng tôi, và cô cho rằng cuộc đời anh chẳng có điều gì là ngẫu nhiên cả. Chúng trông có vẻ ngẫu nhiên đấy, nhưng tất cả đều đã được tính toán hết. Anh ấy thích Dada, mọi thứ ở đây đều theo phong cách siêu thực và rất “Dada”, bởi vậy tôi nghĩ đằng sau những sự sắp xếp này có một ý niệm gì đó.

Phòng tranh này cũng là một nơi để mọi người tụ tập nữa – rất nhiều nghệ sĩ và trí thức gặp gỡ nhau tại đây. Ngay từ trước khi chúng tôi mở phòng tranh thì nhiều nhà văn hay nhạc sĩ đã có thói quen lui tới đây rồi, vì bố chồng tôi là một biên kịch có tiếng. Ông tên là Vũ Đình Long – được coi là người đã khai phá mảnh đất kịch nói của Việt Nam. Ông đã dịch kịch của Moliere, Cornell và một vài tác phẩm của Shakespeare sang tiếng Việt, và rồi viết tác phẩm kịch nói đầu tay mang tên Chén thuốc độc – được công diễn tại Nhà hát lớn vào năm 1921. Ông còn là một nhà xuất bản, người đã giới thiệu rất nhiều nhà văn đến với công chúng. Sau đó, họ đều trở nên nổi tiếng và cùng có mặt tại lễ thành hôn của chúng tôi vào năm 1985 – những người bạn cũ đó, những nhà văn, những nghệ sĩ đó.

Và rồi khi chồng tôi bắt đầu cầm cọ vẽ thì nơi đây trở thành chốn tụ tập của cả các hoạ sĩ, trong đó có cả hoạ sĩ nổi tiếng Bùi Xuân Phái. Ông ấy từng đến đây uống rất thường xuyên, hầu như cách ngày, nhờ đó tôi có rất nhiều chân dung do ông ấy vẽ. Tôi thậm chí từng đưa những bức chân dung ấy đi triển lãm ở Singapore.”

●●

CÁI BÀN

the_desk

“Tôi nói đó là cái bàn của tôi, nhưng thực ra nó là của bố chồng tôi – ông ấy đã viết phần lớn các tác phẩm kịch ngay trên chiếc bàn này. Với tôi, cái bàn này vô cùng quan trọng vì nó còn là nơi làm việc của tôi nữa. Tại cái bàn này, tôi đã viết vô vàn bài báo, và ngồi lên kế hoạch cho nhiều dự án khác nhau.

Tôi hy vọng rằng tôi có thể giữ nó. Nhưng chúng tôi đang chuẩn bị bán căn nhà này vì mẹ tôi đã rất già. Dự định của tôi là sẽ mua một căn nhà, rồi lập nên một chỗ không hẳn là viện bảo tàng, mà giống như một nhà tưởng niệm cho bố chồng tôi. Tôi còn giữ rất nhiều bản thảo của ông. Tôi muốn một không gian đặc biệt dành riêng cho ông ấy, ở đó sẽ trưng bày cái bàn này, cái giá sách của ông, một vài vật dụng nữa. Và một vài bức chân dung chồng tôi vẽ nữa. Vào năm cuối đời, năm 2009, chồng tôi đã vẽ một loạt chân dung của các nhà văn mà bố chồng tôi đã giúp xuất bản.”

●●

RƯỢU NẾP VÀ NHỮNG CÁI CHÉN

 

ruou_thuoc&cups

“Mọi người thường tụ tập ở đây, và khi ở đây thì họ uống gì? Lúc nào họ cũng uống rượu.

Nghệ sĩ, nhà văn với nhạc sĩ mà, họ lúc nào cũng uống rượu. Khi tôi gặp chồng tôi vào những năm 80, họ đang uống một thứ rượu dở tệ – rượu cuốc lủi. Nó là thứ vodka được chế tại nhà, cực kì kinh khủng. Nhưng tại những buổi lễ khai trương triển lãm, bao giờ chúng tôi cũng mời thứ rượu học này, và ai cũng thích. Chúng tôi mua thuốc từ các thầy lang và mua vodka riêng, sau đó cho tất vào một cái bình lớn, tạo thành thứ rượu học này. Ngon đấy chứ hả? Nó còn rất bổ nữa. Cô mà uống cả chai – nếu được (cười lớn) – thì cũng không hề bị đau đầu. Hoặc là uống thứ này, rồi sau đó uống ít rượu ngoại hay sâm panh, cũng không hề đau đầu luôn. Sau khi uống rượu này, cô muốn uống thêm cái gì cũng được. Kỳ diệu lắm.

Những cái chén này là do một nghệ sĩ người Pháp Eric LaRue chế tác, ông đã sống ở đây vào những năm 90s. Ông ấy đã hỗ trợ chúng tôi nhiều trong việc lập nên không gian này, và chúng tôi còn cùng nhau tổ chức nhiều hội thảo về nghệ thuật, âm nhạc và nhiều dự án khác nữa. Ông ấy cũng là người đã vẽ lên mấy cái chén này.”

●●

LỌ HOA

ceramic_vase

“Lọ hoa này là của Nguyễn Văn Chung, một nghệ sĩ đương đại nổi tiếng của Việt Nam. Ông ấy vừa vẽ, vừa tìm hiểu các vấn đề xã hội; ông ấy là một nghệ sĩ có tính phê phán mạnh mẽ. Ông ấy quyết định làm 100 cái lọ hoa như thế này, mặc dù tôi đã cho là ông ấy sẽ không bao giờ làm được. Nhưng thực sự thì ông ấy đã thành công, và chúng được đem đi trưng bày ở rất nhiều triển lãm. Bây giờ chúng trở thành một bộ sưu tập tại Bảo tàng nghệ thuật Singapore. Cái bình này là một trong số chúng, nhưng nó rất đặc biệt, vì thường ông ấy không hay dùng màu này.

Đôi khi sau các triển lãm, những nghệ sĩ thường tặng tôi quà. Tôi có rất nhiều bản vẽ phác vì thường khi các nghệ sĩ đến đây, uống ở đây, họ sẽ thỉnh thoảng để lại các bản phác thảo hay đưa lại cho tôi những gì họ đã làm ra. Cả đồ gốm nữa.

Khi chúng tôi quyết định dừng tổ chức triển lãm, tôi đã yêu cầu các nghệ sĩ đến lấy lại những bức vẽ và tác phẩm của họ, nhưng chẳng dễ dàng chút nào. Họ lười lắm. Có nghệ sĩ này, tôi phải cuộn tranh của anh ấy lại và đi taxi đến tận nơi, vác theo những cuộn to đùng đó. Các tác phẩm gốm thì họ không bao giờ chịu nhận lại. Tôi phải gọi điện cho họ, nhưng chẳng ai đến. Tôi phải giữ rất nhiều dưới gầm giường của tôi hoặc bày la liệt trong một căn phòng khác. Có đĩa, có lọ, trong nhà có bàn tủ gì thì dưới gầm đều có đồ gốm. Giờ thì tôi quyết định rồi, nếu có ai xin lại tôi mấy thứ đồ gốm đó tôi sẽ không trả đâu, tôi đã chăm sóc chúng suốt 20 năm rồi…

Nhưng cái lọ hoa này thì thực sự là quà tặng cho tôi đó.“

●●

 

VẢI

ethnic_weaving_design

“
Tấm vải này hẳn có từ những năm 60s hay 50s. Tôi có hơn 200 miếng vải như thế này. Tôi mua tấm đầu tiên vào năm 1993, giờ cô vẫn có thể tìm mua được những mảnh vải cũ như thế này. Tấm vải này được làm từ cotton, còn tấm kia là từ lụa; hồi đó họ tự sản xuất vải nhưng bây giờ phần lớn toàn mua từ Trung Quốc. Ban đầu tôi mua chúng chỉ vì tôi thực sự rất thích thứ thẩm mĩ toát ra từ chúng. Nhưng rồi, tôi bị ấn tượng bởi những họa tiết trang trí trên đó, và khoảng 15 năm trước tôi bắt đầu tìm hiểu về chúng. Không có nhiều tài liệu lắm về motif đằng sau những họa tiết ấy. Tôi đã nghĩ chúng sẽ liên quan tới văn hoá dân gian và những truyền thuyết của người Thái, bởi vậy tôi bắt đầu phỏng vấn nhiều người cao tuổi. Tri thức phai mờ đi rất nhanh và nếu những người cao tuổi biết về ý nghĩa các hình ảnh đó mất đi, thế hệ trẻ sẽ không bao giờ biết được câu trả lời nữa. Tôi là một phụ nữ làm nghiên cứu, tôi tìm hiểu về mọi thứ. Nếu như không phải làm việc thì tôi sẽ học tập cả đời.”

●●

CÁI CÂY

daughter's_fir_tree_toy

“Đây là một vật rất quan trọng, một vật cực kỳ cá nhân của tôi. Nó là thứ gắn kết tôi với con gái mình. Hồi nhỏ con bé rất thích truyện cổ tích, còn cái cây này là từ một câu chuyện cổ tích của Nga [Ba chú gấu], mặc dù tôi nghĩ là những dân tộc khác cũng có những câu chuyện tương tự. Con gái tôi có cả một bộ đồ chơi liên quan tới câu chuyện này; tất cả đều theo bộ ba như là ba cái cây để tạo nên khu rừng bao quanh ngôi nhà vậy. Con bé chia mấy cái cây ra, một cho tôi, một cho chính mình và một cây cho bố nó; chúng tôi phải luôn giữ cái cây đó bên mình. Bây giờ con bé đang ở Canada, và vẫn cầm theo món đồ này. Chồng tôi thì đã qua đời rồi, nên bây giờ tôi giữ hai cái. Mỗi khi chúng tôi đón Tết với bạn bè, nhờ cái cây mà tôi thấy như con bé vẫn đang ở đây bên cạnh tôi. Khi đi đâu tôi cũng mang nó theo, và tôi nghĩ là nó mang lại may mắn cho tôi. Tôi mê tín lắm, từ thời còn bé đã vậy, vì bà tôi cực kỳ tin vào phép thuật – bà còn có thể phù phép nữa.”

●●

ĐỒ TRANG SỨC

Jewelry2

“
Tôi nhận ra là, khi tôi đeo món đồ trang sức này lên, nó có một chức năng đặc biệt. Ví dụ, đây là Thánh Natalia. Tôi vốn theo Chính thống giáo; tôi không thực hành nhưng đã được rửa tội, và được ban tên phước của Bà. Tôi cảm giác rằng bất cứ khi nào có ai đó muốn làm hại tôi, Bà sẽ bảo vệ cho tôi. Bởi vậy tôi đeo nó mỗi khi tôi cần được che chở. Chiếc vòng này từng thuộc về mẹ tôi và tôi nghĩ là tình yêu của mẹ cũng che chở cho tôi.

Tôi gán cho những món đồ trang sức một ý nghĩa nhất định. Hồi còn trẻ một người bạn trai từng tặng tôi một món đồ trang sức, và sau đó chúng tôi chia tay. Từ đó tôi lúc nào cũng gặp xui xẻo và không thể tìm được bạn trai mới. Rồi một đêm tôi nghĩ: “Mình phải vứt bỏ đôi hoa tai anh ấy tặng mình thôi.” Và vào giữa đêm hôm ấy ở Nga, lúc đó tôi khoảng 29 tuổi gì đó, tôi đã vứt đôi hoa tai đi. Không phải chỉ vứt vào thùng rác thôi đâu, tôi đã đưa tận tay cho người gom rác, vào đúng 2 giờ sáng. Sau đó thì mọi thứ thật…

Và món trang sức này cũng rất đặc biệt. Nếu bạn đeo chúng đến một bữa tiệc, tất cả đàn ông sẽ nhìn bạn. Chúng hơi dày và hơi nặng một chút, nhưng bạn phải chịu đựng thôi, để có thể trở thành trung tâm của bữa tiệc.

Còn chiếc trâm cài áo này. Một người giám tuyển, người đầu tiên chọn tác phẩm của chồng tôi cho một triển lãm lớn tại Úc năm 1996, đã tặng nó cho tôi; bởi vậy mỗi khi tôi ra nước ngoài tham dự triển lãm lớn tôi đều đeo nó. Mỗi khi đeo nó vào, tôi lại trò chuyện rất thoải mái với các giám tuyển, những nghệ sĩ, gặp gỡ và làm quen được với những con người thú vị. Cứ như là nữ hoàng truyền thông vậy.

Giờ thì cô biết rất nhiều rồi đó, cô uống đi.”

 

Chia sẻ Tweet

Bạn cũng có thể thích

  • Nghệ thuật & Hình ảnh

    Hà Nội không buồn được đâu

  • Nghệ thuật & Hình ảnh

    Khoảnh khắc của tự do

  • Nghệ thuật & Hình ảnh

    In Conversation: Nghệ thuật và các hoạt động Queer

Recent Posts

  • Hà Nội không buồn được đâu

    28 Jan, 2016
  • Khoảnh khắc của tự do

    25 Jan, 2016
  • In Conversation: Nghệ thuật và các hoạt động Queer

    24 Dec, 2015
  • In the Studio: Việt Lê

    23 Dec, 2015
  • Chuyển Động Của Tôi

    10 Dec, 2015
  • Vintage: Tạp chí trẻ em từ năm 1991

    28 Oct, 2015
  • Hanoi Hideaway: Đến thăm sách trong những quán cà phê ở Hà Nội

    19 Oct, 2015
  • Nhớ đến Gỗ Lim

    14 Oct, 2015
  • Phỏng vấn: Victor Vũ và ‘Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh’

    1 Oct, 2015
  • More Than Words: Đối mặt với Biến đổi khí hậu

    28 Sep, 2015

Subscribe & Follow

Follow @aootmagazine
Follow on Instagram
Follow on Tumblr

& Of Other Things Newsletter

  • Đối thoại
  • Khám phá studio
  • Vài điều về tôi
  • Hàng tuyển
  • Tiêu điểm thiết kế
  • Chân dung nghệ sĩ
  • (English) Q&A
  • Things of Beauty
  • Hoạt họa
  • Ăn trưa cùng đầu bếp

& Of Other Things