Nhà phê bình điện ảnh Thùy Linh đánh giá những tác phẩm điện ảnh kinh điển Việt Nam.

Một cảnh quay đẹp trong phim. Một sỹ quan Pháp nói về lợi ích của việc xây đường tàu qua đất của Cậu Nguyễn, người ra sức chối bỏ các thành tựu của thế giới văn minh.
Viết bởi Thùy Linh ● Dịch bởi Tabby Chino
Các nhà làm phim đương đại của Việt Nam dường như có một định kiến rằng các tác giả và tác phẩm văn học kinh điển nhất thiết phải được coi trọng hơn các nhà làm phim và tác phẩm chuyển thể của họ. Sự thiếu tự tin này có lẽ đến từ một sự tôn trọng dễ nhận thấy và có lẽ là quá mức, dành cho các tác phẩm kinh điển, truyền thống và các tác phẩm ra đời sớm hơn, cụ thể trong trường hợp này, là văn học với vai trò là một loại hình nghệ thuật có tuổi đời cao hơn điện ảnh.
Tác phẩm chuyển thể đáng chú ý năm 2002 của nhà làm phim Việt Linh, dựa trên tiểu thuyết ngắn kinh điển Chùa Đàn của nhà văn Nguyễn Tuân, đã đưa điện ảnh lên một tầm cao mới. Phiên bản điện ảnh của tác phẩm này, Mê Thảo, thời vang bóng (Mê Thảo, Once Upon a Time) là một tác phẩm chuyển thể tuyệt vời với nhiều điểm đáng chú ý. Phần âm nhạc viết cho các nhân vật trong phim đã hoàn toàn hiện thực hóa được chất nhạc thấm đẫm trong từng câu văn mô tả của Nguyễn Tuân. Những góc quay trong phim thu nhận được vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên là hoàn toàn chân thực. Bối cảnh phim rất nguyên bản và đúng với sự thật lịch sử. Trên tất cả, điều tuyệt vời nhất về bộ phim nằm ở kịch bản đầy sáng tạo được viết bởi Phạm Thùy Nhân, Việt Linh, và Serge Le Peron – ngoài ra còn có góc nhìn đậm chất phái nữ bổ sung cho tác phẩm gốc của Nguyễn Tuân.
Nguyễn Tuân viết tác phẩm gốc Chùa Đàn năm 1945 trong một thời kỳ quá độ ngắn trong sự nghiệp của ông, sau khi ông chuyển từ viết văn nghị luận sang truyện ma, và trước khi phong cách của ông bị ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị. Đây cũng là tác phẩm cuối cùng trong chuỗi truyện phi thực của ông, và được đánh giá là một trong những truyện hay nhất ông từng viết. Sau Cách mạng tháng Tám chống thực dân Pháp, ông đã viết thêm chương mở đầu và một cái kết đầy hơi hướng chính trị cho câu truyện. Tác phẩm chuyển thể của Việt Linh chỉ được thực hiện dựa trên văn bản gốc của Chùa Đàn.

Cam kéo bức tượng vợ sắp cưới của cậu chủ đem dìm xuống sông. Cam là một sự đối lập rất sắc sảo được tạo ra so với quan niệm về người phụ nữ trong tác phẩm gốc của Nguyễn Tuân
Tác phẩm gốc
Câu chuyện gốc của Chùa Đàn kể vềLãnh Út, ông chủ của ấp nuôi tằm Mê Thảo trong thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi vợ anh ta mất trong một tai nạn xe lửa, Lãnh Út hoàn toàn suy sụp và đổ lỗi cái chết của vợ mình cho các loại máy móc. Anh ta đã đưa điền trang của mình với toàn bộ máy móc và sản phẩm cùng sự nghiệp kinh doanh của gia đình đến con đường tiêu tán và bị nhân công oán ghét. Anh cũng bắt đầu uống rượu tối ngày và làm nhiều việc tội lỗi, trong đó có cả việc hãm hiếp một phụ nữ. Khi Lãnh Út cuối cùng cũng ngừng uống, ngừng khóc, và ngừng nghe hát ả đào (một loại hình ca hát truyền thống trong nhà do phụ nữ biểu diễn của miền bắc Việt Nam), trong suốt một năm liền anh chỉ ngồi nhìn chăm chăm vào bức chân dung của vợ, đến mức chiếc bóng của anh in hằn vào tường. Một ngày vì muốn uống rượu và nghe hát ả đào một lần nữa, anh ta sai Bá Nhỡ, người hầu cận trung thành của mình đi tìm Cô Tơ, một ả đào nổi tiếng về hát cho mình.
Bá Nhỡ tìm đến Cô Tơ, lúc này đã giải nghệ và trở về làng nguyên quán sau khi chồng cô, cũng là người bạn diễn của cô, qua đời. Vì một lòng thờ chồng, cô đã thề sẽ không bao giờ biểu diễn với một người đàn ông khác trừ khi anh ta dám cầm lên và chơi chiếc đàn đáy của chồng cô (một loại đàn ba dây), chiếc đàn bị ma ám vẫn cứ vật vã đổ mồ hôi và thở dài hàng đêm. Đó là một việc vô cùng nguy hiểm. Trước đây có một người mê ả đào cũng đã đụng tay gảy đàn ấy mà hóa ra suýt bị thiêu sống. Bá Nhỡ, vốn là tay chơi đàn có chút tài năng, nợ cả mạng sống của mình vì ông chủ. Hắn từng bị kết tội tử hình vì có mưu giết người nhưng rồi được Lãnh Út làm giả giấy tờ nhân thân cho và nhận vào làm ở Mê Thảo. Bá Nhỡ nhận cái ơn ấy mà đồng ý chơi đàn để ông chủ mình vui sống trở lại.
Bá Nhỡ chơi đàn rồi chết ngay sau đó. Hồn của hắn đổi chỗ với hồn của chồng cô Tơ để ông ta được đầu thai trở lại. Nhưng cái chết của Bá Nhỡ không phải vô nghĩa. Lãnh Út được thức tỉnh nhờ đó, nhận ra mình đã quá nhu nhược, ích kỷ và thề sẽ không nghe hát ả đào hay uống rượu một lần nào nữa. Lãnh Út sau ấy đã cho xây Chùa Đàn (cũng là tên câu truyện này, một ngôi chùa thờ đàn) để thờ Bá Nhỡ và nhắc nhở mình về sức mạnh của âm nhạc.
Câu truyện mà Nguyễn Tuân đã viết là một cống hiến tinh tế cho nghệ thuật và là hiện thân của lý tưởng. Những nhân vật trong truyện đều là những người đam mê và làm chủ nghệ thuật. Cao trào của truyện là một màn diễn siêu thực về âm nhạc đỉnh cao, quá hoàn hảo, quá quyền năng đến nỗi nó đã lấy đi mạng sống của một người đàn ông, nhưng cũng cùng lúc đầu thai cho một linh hồn khác và qua đó, vẫn bảo tồn vòng tuần hoàn của sự sống. Tuy vậy, cái thế giới lý tưởng và đầy chất nghệ ấy cũng có thể được nhìn dưới một góc độ khác. Những người làm công cho Lãnh Út phẫn nộ trước lối sống hoang tàng của ông chủ vì chính họ chứ không phải ai khác đã phải cong lưng gánh lấy cái nợ của anh ta. Bản thân câu truyện được viết trong một không khí ma mị chứ không phải thần thánh, và ở đó nghệ thuật và cái lý tưởng không nhất thiết phải được đặt dưới ánh sáng của thiên đường.

Cậu Nguyễn (bên phải) uống chén rượu cuối trước khi phóng hỏa đốt hết những bình rượu quý, xác người quản gia trung thành, đốt cả chính mình và lối sống vang bóng một thời.
Tác phẩm chuyển thể
Bộ phim Việt Linh làm đạo diễn đã mang cái thế giới nghệ thuật và lý tưởng ấy xuống sát với hiện thực hơn. Một nhân vật nữ trung tâm cũng đã được bổ sung vào trong phim. Cam là một nhân vật hầu gái điển hình – thật thà và bị câm – người bị bỏ rơi từ lúc mới sinh và được cha mẹ của của Lãnh Út nhận về nuôi. Cô yêu say đắm nhân vật Lãnh Út, mà trong phim được gọi dưới cái tên Cậu Nguyễn (một sự liên hệ đến chính Nguyễn Tuân). Nhân vật Cam trong phim là một chân dung người tình chân thật và gần gũi hơn hình ảnh vợ chưa cưới của Nguyễn (chứ không phải vợ anh ta, một sự thay đổi khác so với truyện mà tôi sẽ giải thích sau), một mỹ nhân đầy chất nghệ thuật mà vẻ đẹp của cô chỉ được phiếm chỉ đến chứ chưa từng được thể hiện. Cam cố làm cho Cậu Nguyễn hiểu và trân trọng những gì anh ta đang có trước mắt hơn là chỉ bám lấy cái đẹp ảo tưởng.
Vì trung thành với tác phẩm gốc, nhân vật Nguyễn trong phim chưa từng hạ mắt để ý đến tình cảm của cô gái này. Tuy vậy, bộ phim vẫn lên án khái niệm của anh ta về phụ nữ và tình yêu.
Nhằm tránh việc gây phản cảm cho người xem, bộ phim không đi vào chi tiết về vụ cưỡng bức và giúp nhân vật Lãnh Út tránh được định kiến từ một tội ác khó có thể tha thứ. Thay vào đó, đoàn làm phim đã tìm một con đường khác để mô tả nội tâm bị tàn phá của nhân vật Nguyễn. Bộ phim không tập trung vào vụ cưỡng bức mà ngược lại , đi sâu khai thác việc Nguyễn ngồi ngắm chân dung vợ chưa cưới của mình và khiến chiếc bóng của anh ta in chặt lên tường, kết nối hai sự việc này dưới một cách nhìn mới và hợp lý hơn. Nguyễn đẽo một bức tượng vị hôn thê của mình và làm tình với khúc gỗ ấy, một hành vi tuyệt vọng và bệnh hoạn cả về mặt thể xác và tâm trí. Máy quay chỉ cho thấy phần thân trên đẫm mồ hôi của Nguyễn và bộ ngực của bức tượng trong lúc làm tình, một cách quay dạn và rất gợi tả. Với Cam, người phải chứng kiến những cảnh ấy, hành động của Nguyễn với bức tượng quả là vô vọng, bất thường và mang tính tự hủy hoại. Điều đó cũng thật đau lòng với cô vì anh ta thà làm tình với một bức tượng hơn là một người phụ nữ bằng xương bằng thịt đang khao khát được anh chạm đến.
Trong một nỗ lực mạnh mẽ nhất để thức tỉnh anh ta thoát khỏi nỗi ám ảnh quay quắt của mình, Cam đã đem bức tượng ném xuống sông. Nguyễn đã dìm Cam cũng xuống dòng sông ấy để trả thù. Dù vậy, tình yêu cô dành cho Nguyễn là vô điều kiện và không hề thay đổi sau khi cô được cứu sống. Các nhà viết kịch bản phim đã rất sắc sảo khi xây dựng hình tượng Cam là một người bị câm, thật thà và có địa vị thấp kém. Cô không hề có khả năng hay quyền được Nguyễn chú ý đến. Tình yêu của cô cũng vì đó càng sâu đậm hơn, không kém gì tình cảm Nguyễn dành cho người con gái quá cố.
Cảnh vật lộn giữa Cam và Nguyễn bên dòng sông rất giàu tính mô tả. Nó tượng trưng cho cuộc chiến giữa cái nhìn về người phụ nữ trong phim so với trong truyện, và sâu xa hơn, giữa một nữ nghệ sỹ như Việt Linh so với một người đàn ông như Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân nổi tiếng vì cách viết rất “ngông” của ông. Việt Linh phải sẵn sàng đối mặt với thử thách đưa được cái “ngông” ấy vào phim. Với biến cố bên dòng sông này, nhân vật nữ hiện thân cho Việt Linh mới chính là người đẩy cái “ngông” của Nguyễn Tuân đến đỉnh điểm . Bản thân bộ phim có tiết tấu chậm và lặng lẽ như nhân vật Cam, nhưng đồng thời cũng ngập tràn những khao khát mãnh liệt và hành động kịch tính.
Nỗi đau của ông chủ ấp trong phim được thể hiện rất khác. Trong câu truyện của Nguyễn Tuân, Lãnh Út mất vợ cũng là mất đi một người bạn tâm giao của mình. Mối quan hệ giữa họ là thật và vì thế nỗi đau cũng hiện hữu hơn. Trong phim, Cậu Nguyễn mất đi hôn thê chứ không phải vợ của mình. Với bối cảnh thời đó, một người đàn ông không thân thiết đến vậy với vợ chưa cưới. Sự mất mát của anh ta cũng từ đó trở nên vô lý, một mối quan hệ không trọn vẹn đối lập với tình yêu rất chân thành của Cam. Nỗi ám ảnh của Nguyễn là trẻ con, ngớ ngẩn và cố chấp, vì anh ta đã đánh đổi sự sống của một con người thật để lấy một hồn ma.
Câu chuyện về nguồn gốc của Bá Nhỡ, người quản gia, cũng được viết lại. Sự tận tâm của Bá Nhỡ được dành cho người tình của anh ta, Cô Tơ, thay vì ông chủ của mình. Người quản gia trong phim, Lê Tam, vốn là người tình của Cô Tơ, người đã phải lấy chồng dưới sự sắp đặt của cha mẹ. Án tử hình mà nhân vật Bá Nhỡ của Nguyễn Tuân phải nhận đã được gán cho một lý do cao thượng hơn, Lê Tam đã giết một người đàn ông say rượu và làm nhục Cô Tơ. Khi Lê Tam quyết định chơi đàn dù biết kết cục dành sẵn cho mình, anh ta làm vậy để có thể được một lần nữa biểu diễn với người tình đã bao lâu xa cách. Nhờ có quá khứ nhiều cảm xúc với người quản gia này, nhân vật Cô Tơ, và hình tượng người phụ nữ nói chung, đã có thêm chỗ đứng trong bữa tiệc tôn vinh tình yêu của đàn ông cho tính nam và âm nhạc này của Nguyễn Tuân.
Dưới cái nhìn của một người phụ nữ như Việt Linh, việc tìm ra lối thoát cho những vấn đề của Cậu Nguyễn trong phim không hẳn là dễ dàng. Nghệ thuật chưa hẳn là đã là chìa khóa ở đây. Trong tác phẩm gốc, âm nhạc đã thể hiện được ma thuật của mình, giúp Lãnh Út nhận ra bài học dành cho anh và từ đó sống tiếp. Trong chương mở đầu được viết thêm sau này, anh ta còn tìm được niềm tin vào cách mạng. Kết cục của nhân vật này trong phim không được trọn vẹn và hạnh phúc như thế. Khúc hát ả đào và cái chết của người quản gia chỉ làm anh ta day dứt hơn. Họ không cứu rỗi được anh ta. Trong phần cuối phim, Cậu Nguyễn về nhà và thấy người Pháp đang xây một đường tàu qua ấp của anh ta (với sự đồng ý của đám nhân công) – thứ máy móc mà anh ta ghét cay ghét đắng và tìm mọi cách chối bỏ. Cảm thấy bất lực hoàn toàn, anh ta mang theo xác Lê Tam vào hầm rượu của mình rồi tự phóng hỏa. Cam cố hết sức chạy đến đám cháy nhưng cô biết anh ta sẽ không để cô cứu mình.
●●
THÔNG TIN VỀ BỘ PHIM:
Nhà sản xuất: Hãng phim Giải Phóng
Năm sản xuất: 2002
Đạo diễn: Việt Linh
Kịch bản: Phạm Thùy Nhân, Việt Linh, Serge Le Peron
Đạo diễn hình ảnh: Phạm Hoàng Nam
Chỉ đạo nghệ thuật: Phạm Hồng Phong
Âm nhạc: Văn Dung
Diễn viên: Dũng Nhi, Đơn Dương, Minh Trang, Thúy Nga
Giải thưởng bộ phim đã đạt được: Giải Khuyến khích, Hội Điện ảnh Việt Nam (2002); Giải cho diễn viên phụ xuất sắc nhất dành cho Thúy Nga, Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất cho Phạm Hồng Phong, Liên hoan phim Việt Nam (2004); Giải Bông Hồng Vàng cho Phim hay nhất, Liên hoan phim Bergamo (Ý, 2003); Giải nhì của Quỹ cổ động phát hành quốc tế (2003).















